TẦM NHÌN "ĐỊA-VĂN-CHÍNH-CÔNG-KINH"
QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG

I FORESEE TO WIN
NOTHING IS PERMANENT EXCEPT CHANGE

CASE STUDY N0:164: Soát xét BCTC bán niên: Có như không?

1-Tuy nhiên, nhìn vào các BCTC soát xét thì thấy nổi lên một số vấn đề:

Thứ nhất, phần lớn ý kiến soát xét của CTKT đều chung chung và na ná nhau: “Chúng tôi đã thực hiện công tác soát xét BCTC theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam về công tác soát xét. Chuẩn mực này yêu cầu công tác soát xét phải lập kế hoạch và thực hiện để có sự đảm bảo vừa phải rằng, BCTC không chứa đựng những sai sót trọng yếu. Công tác soát xét bao gồm chủ yếu việc trao đổi với nhân sự của công ty và áp dụng các thủ tục phân tích trên những thông tin tài chính; công tác này cung cấp một mức độ đảm bảo thấp hơn công tác kiểm toán. Chúng tôi không thực hiện công việc kiểm toán nên không đưa ra ý kiến kiểm toán”.

Không ít NĐT đặt câu hỏi: phải chăng, đây không phải là báo cáo kiểm toán nên không cần đưa ra ý kiến nhận xét chi tiết? Hay nhận xét chung chung, thận trọng như vậy nhằm hạn chế thấp nhất mức độ rủi ro cho CTKT?

Thứ hai, DN có bắt buộc phải đăng kèm báo cáo soát xét của đơn vị kiểm toán hay không? Thực tế, tại nhiều bản công bố BCTC soát xét được đăng tải trên website của Sở GDCK không có báo cáo soát xét của CTKT.

2-Việc không đăng tải báo cáo soát xét của CTKT kèm theo BCTC của DN khiến NĐT không thực sự tin tưởng vào tính xác thực về tài chính của DN. Nhưng việc chỉ đưa ra một thông tin “BCTC đã được soát xét” thì hầu như cũng không có giá trị đối với NĐT. NĐT có quyền đặt câu hỏi: CTKT có làm việc nghiêm túc hay không?

Theo giám đốc một CTKT thì hầu hết các đơn vị kiểm toán đều đưa ra báo cáo sau khi thực hiện soát xét. Do quan hệ khách hàng và họ cũng không có thẩm quyền yêu cầu DN phải công bố BCTC soát xét kèm theo báo cáo nhận xét của CTKT nên có những trường hợp DN cố tình không công bố nếu thông tin mà phía kiểm toán đưa ra không có lợi.

CASE STUDY N0:163: TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ: Nỗi buồn và những nghịch lý

1-Từ đầu năm 2015 đến nay, trái phiếu chính phủ không còn hấp dẫn giới đầu tư như trước nữa. Đâu là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này ?

2-Chính phủ có thêm lý do để lo lắng về tình hình ngân sách khi việc phát hành trái phiếu lại không được thành công như mong đợi trong tuần đầu tiên của tháng 5 này: Theo đó, Kho bạc Nhà nước chỉ huy động được 950 tỉ đồng với tỉ lệ trúng thầu 24%;

3-Hơn nữa, toàn bộ đều là kỳ hạn 15 năm, còn 2 loại kỳ hạn 5 năm và 10 năm thì không trúng thầu, theo báo cáo của Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC).

CASE STUDY N0:161: TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG .

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.

2. Khoản nợ là số tiền tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã gửi, giải ngân từng lần theo thỏa thuận đối với nợ quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư này.

3. Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung.

4. Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể.

5. Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể.

CASE STUDY N0:158: NỢ XẤU: KHÁI NIỆM

1-Nợ xấu là gì?

1.1-          Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.

1.2-       Định nghĩa nợ xấu ngân hàng là gì?

Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước như sau:

“Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).”

Cụ thể nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, đồng thời tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.

Như vậy nợ xấu được xác định theo 2 yếu tố:

Đã quá hạn trên 90 ngày

Khả năng trả nợ đáng lo ngại. Đây được coi là định nghĩa của VAS.

1.3-       Một định nghĩa khác về nợ xấu là gì ?

Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê – Liên hợp quốc: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.

2- Bản chất của nợ xấu là gì?

Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản,…. 

Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì trước.

3-“Xử lý nợ xấu” là gì?

3.1-Thứ nhất, chủ nợ tự tổ chức quản lý hoặc bàn giao khoản nợ xấu cho công ty quản lý nợ trực thuộc để tiếp tục theo dõi các khoản nợ nhằm thực hiện thu hồi nợ thông qua việc xử lý các tài sản đảm bảo khoản nợ, khai thác tài sản đảm bảo, tiếp tục theo đuổi các vụ kiện để thu hồi một phần nợ từ thanh lý tài sản của DN phá sản… 

3.2-Thứ hai, là biện pháp thu nợ có chiết khấu. Đây là hình thức giảm giá trị khoản nợ phải trả cho DN khách nợ, giá trị triết khấu do chủ nợ và DN thoả thuận nhưng theo hướng có lợi cho DN nhằm thúc đẩy khách nợ thanh toán dứt điểm khoản nợ, chủ nợ tuy chịu thiệt một chút nhưng cũng sớm thu hồi được một phần vốn và cắt bỏ được “cục nợ” dây dưa này.

3.3-Thứ ba, bán nợ cho các tổ chức có chức năng mua – bán nợ chuyên nghiệp, đây là phương án xử lý nợ xấu nhanh nhất giúp chủ nợ thu hồi một phần vốn kinh doanh để phục vụ cho các nhu cầu và cơ hội kinh doanh mới, nhằm cải thiện tình hình tài chính.